Một số định hướng, giải pháp cụ thể hoàn thiện hệ thống pháp luật

20/05/2021

Những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên mọi mặt của đời sống xã hội. Một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần tạo nên thành công đó là công tác xây dựng hệ thống pháp luật và thi hành pháp luật đã được đẩy mạnh trên tất cả các lĩnh vực theo các yêu cầu, định hướng, giải pháp mà Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã đề ra. Hầu hết các lĩnh vực đời sống xã hội đã có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật được nâng lên và ngày càng hoàn thiện cả về nội dung, hình thức, kỹ thuật lập pháp, theo hướng thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực thực thi pháp luật trên thực tế, tạo nền tảng thuận lợi cho phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế sâu rộng. Với vai trò là công cụ quản lý nhà nước và xã hội, pháp luật còn là công cụ để Nhân dân làm chủ, kiểm tra và giám sát quyền lực nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn còn một số hạn chế, bất cập như: Thiếu tính ổn định, nhiều lĩnh vực các văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung trong thời gian ngắn, dẫn đến khó khăn trong áp dụng pháp luật. Tính thống nhất của hệ thống pháp luật chưa cao, còn tồn tại những văn bản mâu thuẫn, chồng chéo. Xây dựng pháp luật chưa thực sự gắn kết với tổ chức thi hành pháp luật, làm giảm hiệu lực pháp luật. Một số công đoạn trong quá trình xây dựng pháp luật chưa thực sự minh bạch. Năng lực tổ chức thực thi pháp luật của bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương vẫn còn những hạn chế nhất định. Ngoài ra, còn thiếu công cụ, tiêu chí chuẩn mực để đánh giá chất lượng hệ thống pháp luật nói chung và hiệu quả, hiệu lực thi hành pháp luật trên thực tế. Công tác ban hành văn bản quy định chi tiết chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Việc Quốc hội giao cho các cơ quan khác ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội đã và đang diễn ra tương đối phổ biến tại hầu hết các văn bản luật, nghị quyết do Quốc hội ban hành. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc giao ban hành văn bản quy định chi tiết được thực hiện thiếu sự kiểm soát chặt chẽ cả về nội dung và chủ thể được giao ban hành. Bên cạnh đó, hoạt động ban hành văn bản quy định chi tiết được thực hiện bởi các cơ quan được Quốc hội ủy quyền cũng còn nhiều hạn chế, bất cập đã tạo ra khoảng trống pháp lý, gây khó khăn, lúng túng trong việc thực thi pháp luật.

Những hạn chế, bất cập xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do việc chấp hành kỷ cương, kỷ luật ở một số nơi còn chưa nghiêm; trách nhiệm của người đứng đầu của một số cơ quan, đơn vị chưa cao; các giải pháp trong xây dựng pháp luật chưa phát huy đầy đủ, hiệu quả; hoạt động xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật chưa thực sự gắn kết; đội ngũ cán bộ tham gia hoạt động xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật còn mỏng về số lượng, một bộ phận còn phải kiêm nhiệm, năng lực chưa tương xứng với yêu cầu công việc; nguồn lực dành cho công tác xây dựng và thi hành pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; cơ chế phân công, trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan chưa thật chặt chẽ, hiệu quả. Việc rà soát để nhận diện những quy định pháp luật có mâu thuẫn, chồng chéo nhằm đề xuất sửa đổi, bổ sung ngay trong quá trình soạn thảo trong một số trường hợp chưa được chú trọng dẫn đến nội dung dự án, dự thảo pháp luật chưa bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, phải kéo dài thời gian thông qua hoặc ban hành.

Trong giai đoạn hiện nay, tình hình trong nước và quốc tế có nhiều biến động, diễn biến phức tạp, Việt Nam tiếp tục phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nước. Nhiều chủ trương cải cách đúng đắn trong đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, ổn định kinh tế vĩ mô chậm được thể chế hóa hoặc chậm trễ, kéo dài trong tổ chức thực hiện. Những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường chậm được khắc phục. Tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí vẫn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến niềm tin của Nhân dân vào bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị.

Bối cảnh trên đặt ra yêu cầu Đảng và Nhà nước ta phải tiếp tục đổi mới cả trong nhận thức và thực tiễn xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị, nhà nước pháp quyền, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và đổi mới cơ chế hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật. Trong đó, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng đất nước dân chủ, văn minh, giàu mạnh là hết sức quan trọng và cũng là nhiệm vụ trọng tâm đặt ra trong thời gian tới. Để  góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, kịp thời thể chế hóa chủ trương của Đảng tại các Chỉ thị, Nghị quyết, hệ thống pháp luật cần được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện theo hướng:

Một là, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong đó, chú trọng các vấn đề như: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị: Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Viện Kiểm sát, Mặt trận Tổ quốc, chính quyền địa phương...

Hai là, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân. Trong đó, chú trọng các vấn đề như: Hoàn thiện pháp luật về quyền dân sự, chính trị; pháp luật về quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực: kinh tế, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo; pháp luật về quyền giám sát của cơ quan dân cử, của công dân và vấn đề bảo đảm sự tham gia của công dân vào quản lý nhà nước và xã hội…

Ba là, xây dựng và hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế với các nội dung cụ thể:

1. Hoàn thiện pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường vai trò lãnh đạo của Ðảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Tiếp tục việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các luật về tổ chức bộ máy nhà nước trong thời gian tới nhằm cụ thể hóa cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước song song với việc tiếp tục duy trì cơ chế giám sát, kiểm tra giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, giữa cơ quan ở Trung ương và địa phương. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước;

2. Hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức, chế độ công vụ nhằm tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ phẩm chất, năng lực phục vụ Nhân dân và sự phát triển của đất nước.

3. Cụ thể hóa quyền và trách nhiệm của công dân; xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc duy trì, bảo đảm kỷ cương, trật tự công cộng, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm hại an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ của Nhân dân để người dân tham gia tích cực vào công việc của nhà nước, tham gia ý kiến trong giai đoạn xây dựng chính sách, pháp luật và tham gia giám sát cán bộ, công chức và cơ quan nhà nước trong việc thực hiện chính sách, pháp luật.

4. Nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hoàn thiện pháp luật về các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập quốc tế mạnh mẽ và tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư; đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước, quản lý đầu tư công và bảo đảm an toàn nợ công. Hoàn thiện cơ chế điều phối, quản trị các vùng kinh tế, xây dựng chiến lược liên kết kinh tế vùng trong chiến lược phát triển quốc gia, tạo cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển… phù hợp với mỗi vùng và liên kết vùng có hiệu quả, phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương. Xây dựng, bổ sung các cơ chế, chính sách tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế - xã hội. Tập trung thực hiện cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư và kinh doanh, quan tâm phát triển các thành phần kinh tế; huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển, trọng tâm là cơ sở hạ tầng then chốt, các ngành, lĩnh vực, địa bàn có tiềm năng, lợi thế để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh và bền vững. Đổi mới mô hình tăng trưởng, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ; tập trung phát triển các ngành, lĩnh vực và nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

5. Hoàn thiện pháp luật về giáo dục và đào tạo, bảo đảm phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, cải thiện căn bản chất lượng nguồn nhân lực quốc gia theo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.

6. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quốc phòng, an ninh, thể chế hóa sâu sắc hơn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với xây dựng, củng cố và tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, nâng cao năng lực bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Xây dựng, hoàn thiện pháp luật về biên giới quốc gia, vùng biển, vùng trời, hải đảo; về quyền và nghĩa vụ của công dân trong bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; về an ninh phi truyền thống; về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, phòng, chống khủng bố, giữ gìn hòa bình thế giới…

7. Ðẩy mạnh việc rà soát, ưu tiên xây dựng các văn bản pháp luật và các thiết chế bảo vệ nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế. Chú trọng việc nội luật hóa những điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhất là các hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên (như Hiệp định CPTPP, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU, Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam - EU...). Tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật về hoạt động ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế.

Một số giải pháp cụ thể để hoàn thiện hệ thống pháp luật:

1. Tiếp tục đơn giản hoá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Nhà nước ta đã được đơn giản hoá một bước nhưng vẫn còn gần 20 loại văn bản khác nhau, trong đó có tình trạng một số cơ quan được ban hành nhiều loại văn bản khác nhau; mỗi loại văn bản lại có thể do nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luât càng được quy định đơn giản thì càng tạo thuận lợi trong việc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Ở nước ta trước đây, theo quy định của Hiến pháp năm 1946, các cơ quan Nhà nước cũng chỉ ban hành văn bản quy phạm pháp luật với các hình thức Hiến pháp, luật, sắc luật, sắc lệnh, nghị quyết. Không những thế, nhiều hình thức văn bản đồng thời vừa được dùng để ban hành văn bản quy phạm lại vừa được dùng để ban hành văn bản áp dụng pháp luật khi giải quyết các vụ việc cụ thể.

Những thực tế trên đây làm cho hệ thống văn bản quy phạm pháp luật rất phức tạp, việc theo dõi, áp dụng và xác định thứ bậc hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật gặp không ít khó khăn. Việc quy định khá nhiều chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng làm cho hệ thống văn bản quy phạm pháp luật dễ bị chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu sự phân công, phân nhiệm rõ ràng về thẩm quyền.

Vì vậy, cần tiếp tục thu gọn các loại văn bản chứa quy phạm pháp luật nhằm làm cho hệ thống pháp luật đơn giản hơn, tạo thuận lợi cho việc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, làm cho hệ thống pháp luật dễ tiếp cận, thuận lợi cho công tác thi hành và áp dụng pháp luật. Việc đơn giản hoá các hình thức văn bản quy phạm pháp luật giúp cho việc phân biệt rõ hơn văn bản quy phạm pháp luật với các loại văn bản pháp luật khác (văn bản điều hành, văn bản áp dụng, văn bản hành chính); đồng thời, tạo điều kiện cho việc xác định rõ trật tự hiệu lực pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và phù hợp với thông lệ lập pháp quốc tế. Theo đó, tiếp tục đơn giản hoá hệ thống văn bản pháp luật theo nguyên tắc mỗi cơ quan chỉ nên ban hành một loại hình văn bản quy phạm pháp luật cụ thể: Quốc hội ngoài Hiến pháp thì ban hành Luật; Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ ban hành pháp lệnh và về lâu dài nên bỏ hình thức ban hành pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội …

2. Hạn chế tình trạng ban hành “luật khung”

Điều 11 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật phải được quy định cụ thể để khi có hiệu lực thì thi hành được ngay... Dự thảo văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn bị và trình đồng thời với dự án luật, pháp lệnh và phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết...". Tuy nhiên, thực tế vẫn xảy ra không ít các trường hợp vẫn quy định theo hướng “luật khung” còn để lại giao cho các cơ quan khác quy định cụ thể. Vì vậy, để tránh tình trạng các văn bản do cơ quan cấp dưới ban hành trái hoặc mâu thuẫn với văn bản do cơ quan cấp trên thì khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật các cơ quan cấp trên cần đảm bảo nguyên tắc khi văn bản có hiệu lực có thể thi hành được ngay mà không cần phải văn bản quy định chi tiết hoặc hướng dẫn. Đồng thời nên ban hành một văn bản quy định chi tiết để quy định cụ thể nhiều nội dung được văn bản cấp trên giao. Việc soạn thảo, ban hành văn bản như vậy sẽ góp phần làm cho hệ thống pháp luật được đơn giản hoá và minh bạch hơn, đồng thời bảo đảm tính thống nhất cao trong hệ thống pháp luật.

3. Áp dụng kỹ thuật một văn bản sửa nhiều văn bản

Việc áp dụng kỹ thuật một văn bản sửa nhiều văn bản cho phép một cơ quan khi sửa đổi một quy định của pháp luật sẽ đồng thời sửa ngay những quy định có liên quan trong các văn bản quy phạm pháp luật khác do mình ban hành để bảo đảm sự thống nhất giữa các quy định mới với với hệ thống pháp luật, tránh xảy ra các trường hợp mâu thuẫn, chồng chéo, trùng lắp với các quy định cũ trong hệ thống pháp luật. Chỉ trong trường hợp không thể sửa ngay được các văn bản khác vì lý do khách quan, việc sửa đổi phức tạp thì phải xác định rõ danh mục văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban hành trái với quy định của văn bản quy phạm pháp luật mới và có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung trước khi văn bản quy phạm pháp luật mới có hiệu lực để bảo đảm pháp luật được thống nhất của hệ thống pháp luật.

4. Tăng cường chất lượng của công tác thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động thẩm định, thẩm tra phải được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Trong thẩm định, thẩm tra phải đặc biệt chú ý đến thứ bậc hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật sao cho phù hợp với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, cơ quan ngang cấp và không mâu thuẫn trong nội tại văn bản; các chủ thể ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần kiên quyết không xem xét, thông qua hoặc ký ban hành văn bản quy phạm pháp luật khi trong hồ sơ dự án, dự thảo văn bản chưa có báo cáo thẩm định, thẩm tra.

5. Tăng cường và nâng cao hiệu quả của công tác giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước ta với một số lượng lớn đồ sộ các văn bản dưới luật, pháp lệnh, các văn bản này lại do rất nhiều các chủ thể  khác nhau ban hành dưới nhiều hình thức văn bản khác nhau. Hoạt động, giám sát kiểm tra nhằm phát hiện những văn bản quy phạm pháp luật không bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, mâu thuẫn, chồng chéo để kịp thời xử lý xử lý, loại bỏ ra khỏi hệ thống pháp luật. Cần tăng cường thẩm quyền, điều kiện đảm bảo phát huy vai trò của cơ quan tư pháp trong việc kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật.

          6. Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của văn bản quy phạm pháp luật và trách nhiệm của lãnh đạo các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc bảo đảm tính tính thống nhất của hệ thống pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật là nơi thể hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, phục vụ cho mục tiêu quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Một văn bản quy phạm pháp luật sai trái dẫn đến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng không đi vào cuộc sống, mục tiêu quản lý nhà nước, quản lý xã hội không đạt được, xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, làm cho hệ thống pháp luật thiếu tính thống nhất gây nên những rủi ro pháp lý cho cả đối tượng chịu sự điều chỉnh của văn bản cũng như bản thân cán bộ, công chức là người áp dụng các văn bản đó. Chính vì vậy, cần phải làm cho lãnh đạo các cơ quan, tổ chức tham gia vào quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhận thức đầy đủ, đúng đắn về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của văn bản quy phạm pháp luật cũng như ý nghĩa của việc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

7. Đổi mới tổ chức, đầu tư nguồn nhân lực và kinh phí hoạt động cho các thiết chế trực tiếp tham gia vào việc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật

Về tổ chức và nguồn nhân lực: Các thiết chế trực tiếp tham gia vào việc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật gồm: Cơ quan soạn thảo, cơ quan trình, cơ quan thẩm tra, cơ quan cho ý kiến, cơ quan xem xét thông qua hoặc ký ban hành văn bản. Để các thiết chế này hoạt động có hiệu quả, cần thiết phải đầu tư nguồn nhân lực và kinh phí hoạt động; thực tiễn cho thấy nguồn kinh phí cho hoạt động xây dựng pháp luật, giám sát, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật chưa được bố trí tương xứng với tính chất và tầm quan trọng của công việc mà các cơ quan đảm nhiệm. Do đó cần có cơ chế tiền lương, chế độ, chính sách, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ để có thể thu hút những chuyên gia giỏi và nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức ở các cơ quan này.

Về đầu tư kinh phí: Hiện nay vấn đề kinh phí cho hoạt động xây dựng pháp luật còn nhiều bất cập, nhiều cơ quan chưa chú trọng đầu tư kinh phí cho hoạt động này dẫn đến kinh phí cho hoạt động này chưa hạch toán vào kinh phí phục vụ nhiệm vụ thường xuyên của cơ quan nhà nước hoặc nếu có thì ở mức thấp. Vì vậy, cần đổi mới cơ chế cấp phát kinh phí cho hoạt động xây dựng pháp luật, giám sát, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật theo hướng coi chi cho hoạt động này là chi cho “đầu tư phát triển” phải được dự toán hàng năm vào mục chi thường xuyên của các thiết chế này và phải được Quốc hội cũng như các cơ quan có thẩm quyền quyết định theo đúng quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước./.

         Việt Anh

Nghiệp vụ phổ biến giáo dục pháp luật

Chuyên mục