NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT PHÒNG BỆNH NĂM 2025

31/03/2026

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Phòng bệnh (Luật số 114/2025/QH15). Luật được xây dựng và ban hành trong bối cảnh công tác y tế dự phòng, phòng bệnh, nâng cao sức khỏe Nhân dân đang đứng trước nhiều yêu cầu mới, nhất là sự gia tăng của bệnh không lây nhiễm, các vấn đề sức khỏe tâm thần, dinh dưỡng, già hóa dân số, biến đổi khí hậu và nguy cơ bùng phát các dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.

Luật Phòng bệnh là đạo luật chuyên ngành, lần đầu tiên điều chỉnh một cách toàn diện, đồng bộ các hoạt động phòng bệnh, thể hiện tư duy chuyển mạnh từ “chữa bệnh” sang “chủ động phòng bệnh”, lấy người dân làm trung tâm, coi phòng bệnh là nền tảng của hệ thống y tế.

Dưới đây là những nội dung cơ bản của Luật Phòng bệnh năm 2025:

1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và những khái niệm cơ bản

Luật Phòng bệnh quy định toàn diện về: phòng, chống bệnh truyền nhiễm; phòng, chống bệnh không lây nhiễm; phòng, chống rối loạn tâm thần; dinh dưỡng trong phòng bệnh và các điều kiện bảo đảm để thực hiện phòng bệnh. Đối tượng áp dụng là tất cả cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài hoạt động, sinh sống tại Việt Nam.

Luật đã làm rõ nhiều khái niệm quan trọng, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho tổ chức thực hiện, như: phòng bệnh, dịch vụ phòng bệnh, cơ sở y tế dự phòng, giám sát trong phòng bệnh, bệnh truyền nhiễm, bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần, tiêm chủng, khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc, dinh dưỡng hợp lý, suy dinh dưỡng… Việc chuẩn hóa khái niệm giúp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân trong tiếp cận dịch vụ phòng bệnh.

2. Chính sách của Nhà nước và các nguyên tắc trong phòng bệnh

Luật khẳng định Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong công tác phòng bệnh, đồng thời huy động sự tham gia của toàn xã hội. Ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư cho y tế dự phòng; có chính sách ưu đãi đặc thù đối với nhân viên y tế dự phòng, nhất là tại tuyến cơ sở, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo.

Một điểm mới có ý nghĩa nhân văn sâu sắc là quy định bảo đảm người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm một lần theo nhóm đối tượng và lộ trình ưu tiên, góp phần phát hiện sớm bệnh tật, giảm gánh nặng chi phí y tế.

Luật cũng nhấn mạnh việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong phòng bệnh, khuyến khích hợp tác công tư, xây dựng các mô hình cộng đồng, trường học, nơi làm việc an toàn, khỏe mạnh; chú trọng dinh dưỡng hợp lý, nuôi con bằng sữa mẹ, chăm sóc sức khỏe ngay từ những năm đầu đời.

Về nguyên tắc, Luật xác định phòng bệnh chủ động là chính, người dân là chủ thể trung tâm, bảo đảm tính tự nguyện, bình đẳng, bảo mật thông tin; ưu tiên các nhóm yếu thế; tăng cường phối hợp liên ngành, công khai, minh bạch thông tin và bảo đảm tính liên tục, sẵn có của dịch vụ phòng bệnh.

3. Quản lý nhà nước, trách nhiệm của các chủ thể và các hành vi bị nghiêm cấm

Luật quy định rõ nội dung quản lý nhà nước về phòng bệnh từ xây dựng chiến lược, chính sách, pháp luật, phát triển hệ thống y tế dự phòng, đào tạo nhân lực, ứng dụng khoa học – công nghệ, đến thanh tra, kiểm tra và hợp tác quốc tế. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phòng bệnh; Bộ Y tế là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm trước Chính phủ.

Bên cạnh đó, Luật xác định rõ trách nhiệm của tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc tuân thủ pháp luật, phối hợp và chấp hành chỉ đạo khi có dịch bệnh xảy ra. Ngày 07/4 hằng năm được quy định là Ngày Sức khỏe toàn dân Việt Nam, góp phần nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của phòng bệnh.

Luật cũng quy định cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm, như: thông tin sai sự thật về phòng bệnh; cản trở công tác phòng bệnh; phân biệt đối xử, kỳ thị; không triển khai hoặc triển khai không đầy đủ biện pháp phòng bệnh; tổ chức tiêm chủng, xét nghiệm khi không đủ điều kiện; cố ý làm lây lan dịch bệnh hoặc gian dối trong lĩnh vực rối loạn tâm thần.

4. Phòng chống bệnh truyền nhiễm – trụ cột quan trọng của Luật

Luật Phòng bệnh kế thừa và phát triển các quy định về phân loại bệnh truyền nhiễm, phân loại dịch bệnh theo khả năng ứng phó và cấp độ phòng thủ dân sự, tình trạng khẩn cấp; đồng thời quy định rõ các tiêu chí chấm dứt, loại trừ, thanh toán bệnh truyền nhiễm theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới.

Các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm được quy định đầy đủ, bao gồm: giám sát, khai báo, đánh giá nguy cơ, khoanh vùng, cách ly y tế, kiểm dịch y tế, sử dụng vắc xin và sinh phẩm, bảo đảm an toàn sinh học và an ninh sinh học trong xét nghiệm, tổ chức khám chữa bệnh và bảo vệ cá nhân.

Luật làm rõ quyền và trách nhiệm của cá nhân, cơ sở y tế và cơ quan có thẩm quyền, bảo đảm quyền được thông tin, được bảo vệ sức khỏe, quyền riêng tư, đồng thời đề cao nghĩa vụ khai báo trung thực, chấp hành các biện pháp phòng, chống dịch bệnh.

5. Phòng chống bệnh không lây nhiễm và rối loạn tâm thần

Lần đầu tiên, Luật quy định một chương riêng về phòng, chống bệnh không lây nhiễm và rối loạn tâm thần, phù hợp với xu hướng bệnh tật hiện nay. Người dân được khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí; các yếu tố nguy cơ như thuốc lá, rượu bia, ô nhiễm môi trường được kiểm soát theo quy định pháp luật.

Luật nhấn mạnh việc phát hiện sớm, dự phòng và quản lý bệnh không lây nhiễm tại cộng đồng, gắn với vai trò của y tế dự phòng và y tế cơ sở. Đối với sức khỏe tâm thần, Luật đề cao dự phòng sớm, hỗ trợ tâm lý – xã hội, chống kỳ thị, bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế và xã hội cho người mắc rối loạn tâm thần.

6. Dinh dưỡng trong phòng bệnh và điều kiện bảo đảm

Luật Phòng bệnh dành một chương quy định về dinh dưỡng trong phòng bệnh, thực hiện theo suốt vòng đời, chú trọng 1.000 ngày đầu đời, bảo đảm dinh dưỡng hợp lý cho phụ nữ có thai, bà mẹ cho con bú, trẻ em, người lao động và người cao tuổi. Nhà nước có chính sách hỗ trợ dinh dưỡng đối với các nhóm đối tượng yếu thế, vùng khó khăn.

Bên cạnh đó, Luật quy định các điều kiện bảo đảm để phòng bệnh, trong đó nhấn mạnh vai trò của khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, hệ thống thông tin về phòng bệnh, nguồn lực tài chính và nhân lực y tế dự phòng.

Luật Phòng bệnh là bước tiến quan trọng trong hoàn thiện hệ thống pháp luật về y tế, thể hiện quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước: đầu tư cho phòng bệnh là đầu tư cho phát triển bền vững. Việc tổ chức triển khai hiệu quả Luật Phòng bệnh sẽ góp phần nâng cao chất lượng dân số, giảm gánh nặng bệnh tật, bảo đảm an sinh xã hội và quyền được chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, hướng tới xây dựng một xã hội khỏe mạnh, chủ động và an toàn trước các nguy cơ dịch bệnh trong tình hình mới./.


                                                                   Hữu Văn - Phòng PBGDPL

Nghiệp vụ phổ biến giáo dục pháp luật

Chuyên mục